Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Phật Quan Thế Âm hình nền động cho điện thoại miễn phí

 Phật Quan Thế Âm hình nền động cho điện thoại miễn phí
- Niệm Na Mô Quan Thế Âm BỒ Tát hàng ngày để cầu mong bình an, bệnh tật tiêu tan, gia đạo an lành cho mọi gia đình



 tải miễn phí tại đây ->>>https://play.google.com/store/apps/details?id=jookata.com.guanshiyin

 Sự tích Sái Thủy Quán Âm: là Quán Thế Âm Bồ tát đứng trên tường vân tay cầm chén nước rưới xuống. Lòng bi răn như sấm,
ý từ diệu dường mây, như mưa pháp cam lộ, dứt trừ lửa phiền não. Sái thủy là rưới một loại nước thơm, là pháp tu
tụng niệm gia trì làm cho thanh tịnh. Đây là bổn thệ của Quán Thế Âm để khai ngộ Phật tánh của tất cả chúng sanh.
- :เจ้าแม่กวนอิม โทรศัพท์มือถือ ฟรี ->>https://play.google.com/store/apps/details?id=jookata.com.guanyin
-Dowload Application Guanyin, Shakyamuni free on Android phones->
https://play.google.com/store/apps/details?id=jookata.com.guanyin

Nguồn gốc hào quang của Phật

Hào quang phật trên điện thoại  

Nguồn gốc hào quang của Phật được dân gian lưu truyền và ý thức từ mấy ngàn năm về trước.
Ngày nay, người ta thường nhìn thấy “hào quang của Phật” (Phật quang) ở một số ngọn núi, sông và những ngôi chùa miếu nổi tiếng. Những người tin Phật cho rằng đó là Trời đang gửi gắm một thông điệp nào đó cho con người, những người không tin thì lại cho đó là một hiện tượng tự nhiên.
Nhưng từ mặt chữ mà xét, “Phật quang” chắc chắn liên hệ với “Phật”.
Về lai lịch của tên gọi “Phật quang”, dân gian có truyền thuyết như thế này:
Từ mấy ngàn năm trước, vào những năm Vĩnh Bình triều Đông Hán, dưới đỉnh núi Hoa Nghiêm thuộc núi Nga Mi ở Tứ Xuyên, có một vị lão nhân lấy việc hái thuốc làm kế sinh nhai, người ta gọi ông là Bồ Công. Ông đối đãi thiện lương với mọi người, vui vẻ giúp đỡ người khác, đã làm rất nhiều việc tốt. Ông cũng hay giao lưu với một hòa thượng tại chùa Bảo Chưởng trên đỉnh núi Bảo Chưởng. Hai người họ thường đàm luận về Phật Pháp.
Một ngày nọ, khi Bồ Công đang hái thuốc trên đỉnh núi, từ không trung bỗng nhiên nghe thấy nhạc Tiên. Ông ngẩng đầu lên nhìn về hướng phát ra tiếng nhạc Tiên, thì thấy một nhóm người đứng trên mây ngũ sắc và bay đến Kim Đỉnh của núi Nga Mi. Người rất có huệ căn như Bồ Công biết rằng họ không phải Tiên thì cũng là Thần, cho nên ông đã nhanh chân chạy theo đám mây ngũ sắc đến thẳng Kim Đỉnh.
Sau khi đến Kim Đỉnh, ông nhìn thấy biển mây lượn lờ quấn lấy núi, tỏa muôn ngàn ánh hào quang. Giữa ánh hào quang, có một vị Thần Tiên đặc biệt thu hút sự chú ý, trên đầu ông đội một chiếc mũ miện màu vàng kim, hai dải dây màu tím ở hai bên, trên người khoác một chiếc áo cà sa gấm vàng, và đang cưỡi một con voi lớn có sáu ngà. Cảnh tượng trang nghiêm thù thắng ngôn từ khó biểu đạt nổi.
Bồ Công không biết vị Tiên nhân đó là ai, nên vội chạy về tìm hòa thượng Bảo Chưởng. Sau khi tìm thấy hòa thượng Bảo Chưởng, Bồ Công kể lại những gì mình nhìn thấy ở Kim Đỉnh, hòa thượng Bảo Chưởng vừa nghe thấy đã kinh ngạc nói: “Đó chính là Bồ tát Phổ Hiền! Tôi muốn cầu xin Bồ tát chỉ dẫn Phật Pháp.” Nói rồi ông kéo Bồ Công chạy đến Đỉnh Vàng. Khi họ đến vách núi, nhìn xuống một biển mây mênh mang, chỉ nhìn thấy một vầng hào quang bảy sắc.
Hòa thượng Bảo Chưởng nói với Bồ Công rằng: “Bảo quang bảy sắc kia chính là hóa thân của Bồ tát Phổ Hiền, gọi là Phật quang.” Khi Bồ Công nhìn vào đám mây kỹ hơn, ông nhìn thấy giữa hào quang hiện ra kim thân của Bồ tát Phổ Hiền. Ông đã chỉ cho Bảo Chưởng, nhưng hòa thượng Bảo Chưởng không nhìn thấy gì.
Hòa thượng Bảo Chưởng xúc động nói: “Hàng ngày ông hái thuốc cứu người gặp khó khăn. Vì mọi người mà làm nhiều việc tốt, do đó đã cảm động đến Bồ tát nên ngài đã hiển hiện kim thân cho ông nhìn thấy. Những việc tốt tôi làm không nhiều như ông, cho nên tôi không thể nhìn thấy kim thân của Bồ tát mà chỉ thấy được bảo quang trên đỉnh đầu của ngài.”
Từ đó người ta gọi bảo quang mà các vị Thần Phật hiển hiện ra là “Phật quang” hoặc là “kim đỉnh tường quang”, và coi đó như là một điềm tốt lành, cát tường.
Theo Chánh Kiến
-Ứng dụng hay miễn phí cho điện thoại cho phật tử
Niệm Na Mô Quan Thế Âm BỒ Tát hàng ngày để cầu mong bình an, bệnh tật tiêu tan, gia đạo an lành cho mọi gia đình

https://play.google.com/store/apps/details?id=com.jookata.quanmmng
 


Truyền thuyết dân gian: Nguồn gốc hào quang của Phật

Ru Zhi Ngày nay, người ta nhìn thấy “hào quang của Phật” ở một vài ngọn núi, sông và những ngôi chùa nổi tiếng. Những người tin Phật thì nghĩ rằng đó là lời nhắn từ thiên đình, nhưng những người nghi ngờ cho đó là một hiện tượng tự nhiên. Tuy nhiên, nói một cách văn chương, tên “Phật quang” có nghĩa nó phải có gì đó với Phật. Theo truyền thuyết, có một cụ già vào thời nhà Hán ở phương Đông, ông ta sống tại Huayan trên đỉnh núi Nga Mi tại tỉnh Tứ Xuyên. Ông ta đi hái lá để kiếm sống và mọi người gọi ông ta là Pu Gong. Pu Gong rất tử tế và thích giúp đỡ mọi người. Vì vậy, ông đã làm nhiều điều nhân đức. Ông cũng là một người bạn tốt của một thầy tu tại chùa Bao Zhang trên đỉnh Bao Zhang. 2 người họ thường đàm luận về Phật Pháp.
Một ngày nọ, khi Pu Gong đang hái lá, ông nghe nhạc thiên đình. Ông ta đã đi theo hướng của âm nhạc và tìm kiếm. Ông đã nhìn thấy một nhóm người đứng trên một đám mây đủ màu và bay đến đỉnh vàng của núi Nga Mi. Pu Gong biết rằng họ là thần tiên hoặc là những vị Giác Giả, vì thế ông đã nhanh chân và đi theo đám mây đến đỉnh vàng.
Sau khi đến đỉnh vàng, ông nhìn lên vách đá và thấy một biển mây tỏa ra triệu ánh sáng lấp lánh rất đẹp. Giữa những ánh sáng, có một vị thần đẹp tuyệt trần. Ông ta có một cái vương miệng màu tím và vàng, một chiếc áo thầy tu màu vàng, và đang cưỡi một con voi. Cảnh tượng đó vượt khỏi sự miêu tả.
Pu Gong đã không thể nhận ra vị Thần đó và đã nhanh chân chạy đến bạn ông ta tại chùa Bao Zhang. Sau khi nghe vậy, vị thầy tu đã nói rằng: “Ồ, đó là Samantabadra! Tôi muốn hỏi ông ta sự chỉ giáo.” Rồi ông ta nắm tay Pu và chạy đến đỉnh vàng. Khi họ đến vách núi, họ nhìn thấy hàng triệu đám mây, như là những đợt sóng lớn ở đại dương. Người thầy tu bảo Pu rằng đám mây 7 sắc được gọi là Phật quang và nó là sự hiện ra của Samanabadra. Khi Pu nhìn vào đám mây kĩ hơn, ông đã thấy một vị Phật. Ông đã chỉ cho thầy tu, nhưng không may vị thầy tu không thể nhìn thấy. Thầy tu đã thở dài và nói, “Ông nhặt lá mỗi ngày giúp đỡ người khác. Những việc làm tốt của ông đã cảm động Phật, vì thế Phật đã để cho ông nhìn thấy. Tuy nhiên, tôi đã không làm tốt như thế, vì thế tôi không thể thấy Phật và chỉ thấy được hào quang trên đỉnh đầu của ông ta. Từ đó, người ta gọi hào quang hiện ra bởi các vị Phật là “Phật quang” hoặc là “ánh vàng kim” mà đó được coi như là một điềm tốt lành.

Phật phát hào quang trên điện thoại


Chánh Kiến

Sự tích Nhất Diệp Quán Âm


- Sự tích Nhất Diệp Quán Âm: nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, liền được đến chỗ cạn.
 Có thể thấy hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát hiện trên nước. Ngài ngồi trên hoa sen nổi trên mặt nước,
 ngắm nhìn nước tâm suy nghĩ sâu sắc đến những nơi tối tăm không ánh sáng (địa ngục)
.- Hình nền động điện thoại Mừng vía Phật Quan Thế Âm 19 - 9 AL, hằng ngày niệm Phật Quan Âm phù hộ
Đã khai quang điểm nhãn tại Việt Nam Quốc Tư ngày 27/9/2015
https://play.google.com/store/apps/details?id=jookata.com.guanshiyin

Phật A Di Đà là ai?

Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ - nghĩa là thọ
mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang – ánh sáng vô lượng.Phật A Di Đà cai quản cõi Cực Lạc (an vui) ở phương Tây. Ngài có
 nhân duyên hóa độ chúng sinh ở thế giới Ta bà này.Hình dáng đặc trưng: Phật A Di Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ
 cười cảm thông cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có chữ “vạn”.
Phật A Di Đà cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau).
Trên tay Phật có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.
 Hình nền động cho điện thoại miễn phí ->.https://play.google.com/store/apps/details?id=jookata.com.buddha

Phật Thích Ca và Phật A Di Đà khác nhau thế nào?



Phật Thích Ca và Phật A Di Đà có phải là một không? Hai vị Phật này khác nhau như thế nào? 
Phật Thích Ca là ai?Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử: là hoàng tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca - thuộc Ấn Độ ngày nay, sinh vào khoảng năm 624 TCN. Sau khi nhìn thấy cảnh khổ đau của những người già, bệnh tật và qua đời cùng vẻ ung dung thanh thản của 1 vị tu sĩ, thái tử Tất Đạt Đa phát tâm rời khỏi hoàng cung, tu học Phật quả.

Phật Thích Ca là giáo chủ cõi Ta bà (đau khổ) – là thế giới mà chúng ta đang sống.

Phật A Di Đà là ai?Phật A Di Đà là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài nghĩa là Vô Lượng Thọ - nghĩa là thọ mệnh vô lượng và Vô Lượng Quang – ánh sáng vô lượng.

Phật A Di Đà cai quản cõi Cực Lạc (an vui) ở phương Tây. Ngài có nhân duyên hóa độ chúng sinh ở thế giới Ta bà này.

Phân biệt tôn tượng/tranh vẽ Phật A Di Đà và Phật Thích Ca
Phật A Di Đà
Hình dáng đặc trưng: Phật A Di Đà trên đầu có các cụm tóc xoắn ốc, mắt nhìn xuống, miệng thoáng nụ cười cảm thông cứu độ, khoác trên người áo cà sa màu đỏ (tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây), áo có thể khoát vuông ở cổ, trước ngực có chữ “vạn”.
Tư thế tay: Phật A Di Đà có thể trong tư thế đứng, tay làm ấn giáo hóa - tức là tay mặt đưa ngang vai, chỉ lên, tay trái đưa ngang bụng, chỉ xuống, hai lòng bàn tay hướng về phía trước; trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau làm thành vòng tròn.



Phật A Di Đà cũng có thể ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền (tay để ngang bụng, lưng bàn tay phải nằm chồng lên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau). Trên tay Phật có thể giữ một cái bát, là dấu hiệu cho giáo chủ.

Phật A Di Đà trong tư thế ngồi kiết già trên tòa sen, tay bắt ấn thiền

Một dạng khác của ấn thiền ở tượng Phật A Di Đà là các ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm nhau. Vì thế, ấn này còn gọi là Ấn thiền A Di Đà.


Ấn thiền A Di Đà ở tượng Kamakura Daibutsu tại Nhật Bản.

Nhân vật đi kèm: Phật A Di Đà thường được minh họa cùng hai vị Bồ Tát là Quán Thế Âm (bên trái, cầm cành dương và bình nước cam lộ) và Đại Thế Chí (bên phải, cầm bông sen xanh).

Phật A Di Đà và hai vị bồ tát.

Phật Thích Ca
Hình dáng đặc trưng: Tóc Phật Thích Ca có thể búi tó hoặc có các cụm xoắn ốc. Phật Thích Ca mặc áo cà sa hoặc áo choàng qua cổ màu vàng hoặc nâu, nếu có hở ngực thì trước ngực không có chữ "vạn". Phật có thể ngồi trên tòa sen, nhục kế trên đỉnh đầu, đôi mắt mở ba phần tư.
Tư thế tay: Tay tượng Phật Thích Ca có thể xếp ngay ngắn trên đùi, hai bàn tay bắt ấn thiền, ấn chuyển pháp luân hoặc ấn kim cương hiệp chưởng... Phật cũng có thể cầm một chiếc bát màu đen hoặc xanh đen, dấu hiệu cho giáo chủ.
 Hình nền động cho điện thoại miễn phí ->.https://play.google.com/store/apps/details?id=com.jookata.shakyamuni


Tay Phật Thích Ca ở ấn xúc địa - tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước. Trên tay trái của Phật là một chiếc bát.


Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni thủ ấn vô úy - tay mặt đặt ngang tầm vai, các ngón tay hướng về phía trước.


Tay Phật Thích Ca trong tượng này đang làm ấn chuyển pháp luân, tức là tay trái hướng vào thân, tay mặt hướng ra; trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn, hai vòng tròn đó chạm nhau.


Phật Thích Ca thủ ấn kim hiệp chưởng, với đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau, biểu hiện cho tín tâm bất động, vững chắc như kim cương.

Các nhân vật đi kèm: Phật Thích Ca Mầu Ni có thể được minh họa cùng hai vị tôn giả là Ca Diếp (vẻ mặt già, bên trái) và A Nan Đà (vẻ mặt trẻ, bên phải). Đây là hai đại đệ tử của Phật Thích Ca khi ngài còn ở thế gian.



Ngoài ra còn có tôn tượng và tranh vẽ Phật Thích Ca sơ sinh - một tay chỉ thiên, một tay chỉ địa; và Phật Thích Ca nhập diệt - nằm nghiêng mình sang phải.
https://play.google.com/store/apps/details?id=com.jookata.vesak


Sự tích Cáp Lỵ Quan Âm

 Sự tích Cáp Lỵ Quán Âm: Vua Đường Văn Tông thích ăn thịt con hàu, một ngày nọ vua bắt được một con sò lớn, vua dùng dao mổ hoài mà không mở được vỏ sò, ông mới
đốt hương cầu nguyện, con sò hóa thành Quán Âm Đại Sĩ. Nhà Vua triệu vị thiền sư đến nói: người đáng dùng thân đặng được độ, thì hiện thân này mà nói pháp.
 Hiện thân Đại Sĩ là việc hy hữu không tin hay sao. Nhà vua rất vui liền ban chiếu chùa chiền trong khắp thiên hạ tạo tượng Đại Sĩ để tôn thờ. Đây là sự tích của
Cáp Lỵ Quán Âm.
- Hình nền động cho điện thoại miễn phí  Mừng vía Quan Âm 19/9 AL  ->.https://play.google.com/store/apps/details?id=jookata.com.buddhaavalokitesvara
->

Phật Di Lặc và Messiah: Cứu Thế Chủ thời mạt kiếp

Tác giả: Trương Kiệt Liên



Trong Kinh Thánh có lời tiên tri rằng, vào thời khắc tối hậu của nhân loại, sau khi người Israel phục quốc, Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới nhân gian. Còn Kinh Phật ở phương Đông nói rằng khi hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, Phật Di Lặc tương lai sẽ hạ thế phổ độ chúng sinh. Hiện tại, những sự việc được tiên tri đã lần lượt xuất hiện, Cứu Thế Chủ của cả Đông và Tây phương phải chăng đã tới ngay bên cạnh chúng ta?

Cả Kinh Phật và Kinh Thánh đều đề cập tới nhân loại thời mạt kiếp ắt sẽ có Cứu Thế Chủ giáng thế cứu vãn chúng sinh. Kinh Phật cho rằng thời mạt pháp sẽ có vị Phật tương lai là Di Lặc hạ thế cứu độ chúng sinh, còn Kinh Thánh tin rằng khi thời mạt kiếp tới, tất sẽ có Cứu Thế Chủ Messiah giáng thế cứu vãn chúng sinh. Nếu như Kinh Phật và Kinh Thánh là đáng tin cậy, thì như vậy nhân loại nhất định sẽ xuất hiện hai Cứu Thế Chủ, ngoại trừ trường hợp Di Lặc trong Kinh Phật chính là Messiah trong Kinh Thánh.

Phật Di Lặc và Messiah là cùng một người?

Cố học giả của nền giáo dục Trung Quốc, nhà Phật học, nhà phiên dịch Quý Tiện Lâm và các đồ đệ của ông đã có một cống hiến quan trọng, đó là phát hiện mối liên hệ giữa Phật gia và Cơ Đốc giáo, ấy chính là “Vị lai Phật Di Lặc của Phật gia và Cứu Thế Chủ Messiah của Cơ Đốc giáo là cùng một người”.

Theo nghiên cứu của Đại học Phục Đán Thượng Hải, vào khoảng năm 1.000 TCN, trong một vùng rộng lớn bao gồm Tây Á, Bắc Phi, Tiểu Á, lưu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, có một thứ tín ngưỡng thịnh hành về Cứu Thế Chủ của tương lai, và Messiah trong Đạo của Chúa Jesus chính là một loại tín ngưỡng có tính đại biểu nhất. Thực ra loại tín ngưỡng này đã có mặt ngay trong kinh Cựu Ước. Tín ngưỡng Di Lặc của Ấn Độ, theo xác nhận của giới học thuật, là có tương quan mật thiết với tín ngưỡng Cứu Thế Chủ trên phạm vi toàn thế giới; do vậy xét về ảnh hưởng, tín ngưỡng Di Lặc của Ấn Độ chính là một bộ phận hợp thành của tín ngưỡng Cứu Thế Chủ. Nếu dùng ngôn ngữ đơn giản nhất mà diễn đạt, thì Di Lặc chính là Vị lai Phật, là Cứu Thế Chủ tương lai. Nguồn gốc ở Ấn Độ và phạm vi lưu truyền rộng lớn thời cổ đại của tín ngưỡng này chính là một bộ phận của tín ngưỡng vào Messiah.

Hai chữ “Di Lặc” (弥勒) trong tiếng Hán từ đâu mà đến? Thực ra, điều này liên quan đến một trong những bí mật lớn nhất của văn minh nhân loại lần này.

Theo khảo cứu từ «Quý Tiện Lâm văn tập», quyển thứ 12 “Mai Lợi Da và Di Lặc”, thì đa số nguyên bản Kinh Phật thời kỳ đầu đều là “Hồ bản”, tức dùng văn tự của ngôn ngữ Trung Á và Tân Cương cổ đại để viết, chứ không phải là chữ Phạn quy phạm của Ấn Độ. Do đó, hai chữ “Di Lặc” rất có thể đến từ thứ tiếng Tocharian của Tân Cương, là dịch âm trực tiếp từ chữ “Metrak” hoặc “Maitrak”; chữ này rất có quan hệ với chữ “maitri” (từ bi, từ ái) trong tiếng Phạn, do đó “Di Lặc” dịch ý thì chính là “Từ Thị” (người có lòng từ). Vì vậy, ngay từ thời hậu Hán và Tam Quốc ở Trung Quốc, trong một lượng lớn tư liệu Phật điển dịch tiếng Hán đều xuất hiện đồng thời “Di Lặc” và “Từ Thị” (Bồ Tát).

Nếu quả thực như vậy, khái niệm Di Lặc xét về thời gian và bề rộng thì vượt khỏi phạm trù Phật giáo. Tại Trung Quốc, tín ngưỡng sớm nhất của dân chúng không phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng không phải là A Di Đà Phật, mà là Di Lặc Bồ Tát. Người ta phát hiện rằng, tín ngưỡng Di Lặc ngay từ đầu đã là đúc kết tinh hoa văn hóa của toàn bộ nền văn minh thế giới, chứ không chỉ hạn cuộc trong Phật giáo, ngoại trừ khái niệm về Bồ Tát ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa nhân loại.

Di Lặc, trong tiếng Sanskrit gọi là “Maitreya”, tiếng Pali gọi là “Metteya”, và gần như không có quan hệ gì về phát âm với hai chữ “Di Lặc” trong tiếng Hoa. Pháp sư Huyền Trang của Đại Đường trong khi phiên dịch đã phát hiện thấy điểm này, bởi vậy Huyền Trang mới nói là dịch sai, và lẽ ra nên phiên dịch thành “Mai Lợi Da”. Tuy nhiên người ta không tiếp thụ ý kiến của vị cao tăng đáng kính Huyền Trang, lại còn cố định gọi thành “Di Lặc”, và “Mai Lợi Da” đã trở thành phát minh cá nhân của pháp sư Huyền Trang.

Vị Thần mà người Tây phương chờ đợi gọi là “Messiah” trong tiếng Anh, tiếng Hán phiên thành “Di Trại Á”, và bắt nguồn từ chữ “Masiah” trong tiếng Hebrew (có lúc viết thành “Mashiach”). Tiếng Hy Lạp phiên dịch thành “Christos”, bởi vậy mới có chữ “Christ” (Cơ Đốc). “Messiah” và “Christ” về cơ bản là có nghĩa tương đương, và Tân Ước coi Chúa Cứu Thế tương đồng với Messiah của Do Thái giáo.

Hai chữ “Maitreya” và “Masiah” có âm rất gần. Trên thực tế, “Di Lặc” nguyên từ tiếng Tocharian của Tân Cương và “Messiah” nguyên từ tiếng Hebrew của Israel là một từ đồng nhất, chẳng qua ở Tây phương đọc là “Messiah”, ở Ấn Độ đọc là “Maitreya”, còn ở Trung Quốc đọc là “Di Lặc”. Tình huống ngôn ngữ này cũng rất hay gặp trong lịch sử văn minh nhân loại.


Chùa Labrang ở Cam Túc, Trung Quốc là một trong những ngôi chùa chính của Phật giáo Tây Tạng. Trong chùa Labrang là một tượng đồng mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng của Đại Phật Di Lặc, vị Phật tương lai, ám chỉ Phật Di Lặc rời khỏi ngai mang Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân.

Tạo hình tượng Phật trong chùa Labrang ở Cam Túc ẩn chứa huyền cơ

Theo Kinh Phật ghi lại, Di Lặc là Phật hiệu của “vạn vương chi Vương” khi hạ xuống từ tầng tối cao vào thời mạt thế, còn Pháp Luân Thánh Vương là Pháp hiệu của “vạn vương chi Vương” khi hạ xuống Pháp giới (nhân gian gọi là Chuyển Luân Thánh Vương), do đó Phật Thích Ca Mâu Ni mới nói với các đệ tử của Ngài rằng: Pháp Luân Thánh Vương cũng được gọi là Di Lặc.

Từ bi, chói sáng, hy vọng là nội hàm tinh thần của Phật Di Lặc tương lai. Trong chùa Labrang (Lạp Bặc Lăng) thuộc huyện Hạ Hà, châu tự trị dân tộc Tạng ở miền nam Cam Túc, Trung Quốc có một vài bức tượng tiết lộ huyền cơ về Phật Di Lặc hạ thế độ nhân.

Chùa Labrang được xây vào những năm Khang Hy của triều Thanh (năm 1709), là một trong lục đại tông chủ của Cách Lỗ phái (Hoàng giáo) trong Phật giáo Tây Tạng. Nguyên tên của chùa Lạp Bặc Lăng rất dài, gọi tắt là chùa Trát Tây Kỳ, ý tiếng Hán là “chùa Cát Tường”.

Bởi vì đời thứ nhất và đời thứ hai chủ xây chùa này đều là các Phật sống thâm hiểu thiên cơ, nên cách tạo tượng của chùa Labrang cũng ẩn chứa huyền cơ, đặc biệt tạo tượng lưỡng tôn Di Lặc Đại Phật trong chùa có ý vị rất thâm thúy.

Tại hậu điện phía Tây, bên cạnh đại sảnh đường trong tự viện thờ cúng một tượng đồng Đại Phật Di Lặc mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng, hai tay Phật đặt trước ngực. Theo lời giải đáp của vị Lạt-ma hướng dẫn khách du lịch khi được hỏi về tư thế tay của Phật thì: “Đây là Di Lặc Phật đang hướng về thế gian chuyển Pháp Luân! Ngài nửa đứng nửa ngồi, ám chỉ Di Lặc Phật sắp đem Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân”. Nghe nói nguyên danh Trát Tây Kỳ của chùa Labrang (ý Cát Tường) chính là có hàm nghĩa Pháp Luân chuyển động hiện Cát Tường.

Ở chính giữa Đại Kim Ngõa Điện thờ cúng Đại Phật Di Lặc là một tượng đồng mạ vàng từ hơn 200 năm trước, do hai đời chủ chùa này đặc biệt mời thợ thủ công từ Nepal đúc thành, tượng Phật cao 10 mét. Ngay bên dưới, phía trước mặt tượng Phật Di Lặc là một pho tượng Phật nhỏ bằng đồng thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Cách bài trí tượng hai vị tôn Phật, một trước một sau, một lớn một nhỏ, một cao một thấp trong cùng một tế đàn này quả thực là hiếm thấy.

Theo giải thích của vị Lạt-ma hướng dẫn khách tham quan thì: “Các bức tiểu Phật ở phía trước là Phật Thích Ca Mâu Ni và đệ tử của Ngài, còn Phật Di Lặc ở đằng sau, tay cầm Pháp Luân. Ngài là vị Như Lai có thần thông tối quảng đại, với năng lực lớn nhất trong vũ trụ; Ngài mang Pháp Luân tới cứu độ chúng sinh trong vũ trụ, tức Ngài là Đấng Cứu Thế duy nhất của chúng sinh toàn vũ trụ”. Không khó để phát hiện, cách tạo tượng đột nhiên hiện rõ Phật Di Lặc (Chuyển Luân Thánh Vương) với tầng thứ cực cao, Pháp lực cực lớn, mang theo từ bi hồng đại tới cứu độ toàn nhân loại. Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong ngôi chùa này, điện đường thờ cúng Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Tiểu Kim Ngõa Điện, còn Di Lặc Phật Điện được gọi là Đại Kim Ngõa Điện.
 
Thần tại cõi người
Trong Kinh Thánh, cho dù là Tân Ước hay Cựu Ước, đều tiên tri rằng Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới vào thời khắc cuối cùng của nhân loại. Theo truyền thuyết tôn giáo thì trước khi Cứu Thế Chủ Messiah tới nhân gian, một dấu hiệu là người Israel phục quốc, sau đó người ta có thể nhìn thấy Cứu Thế Chủ Messiah.
Sau khi đại chiến thế giới thứ II kết thúc, người Israel sau khi trải qua mấy nghìn năm lưu lạc trên thế giới cuối cùng đã phục quốc. Ngày 13 tháng 5 năm 1948, trong đại hội Do Thái, Jerusalem đã tuyên bố bản tuyên ngôn về “Israel phục quốc”. Tuy xã hội chủ lưu Tây phương là Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, v.v. nhưng Israel là Do Thái giáo, bởi vậy nhằm khống chế Jerusalem (một điều kiện để Thần trở lại), trong hơn nửa thế kỷ qua, xã hội chủ lưu Tây phương đã một mực duy trì giúp đỡ Israel. Về điểm này, họ đã hoàn toàn gác sang một bên sự phân tranh tôn giáo trong lịch sử.
Tại Đông phương cũng có ghi chép về một tín hiệu trọng đại báo hiệu Phật Di Lặc tương lai (Chuyển Luân Thánh Vương) hạ thế. Quyển 8 Kinh Phật «Huệ Lâm Âm Nghĩa» ghi rõ: “Ưu Đàm Bà La hoa là loài hoa linh dị mang điềm lành, tức Thiên hoa, trên thế gian không có. Khi Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương xuất hiện ở thế gian, thì nhờ đại phúc đức của Ngài mà xuất hiện loài hoa này”.
Hoa Ưu Đàm Bà La nở rộ tại tiểu bang Maryland ở Mỹ, năm 2011 (Ảnh: John Yu)
Kinh Phật «Vô Lượng Thọ» cũng ghi lại như sau: “Ưu Đàm Bà La hoa là dấu hiệu báo điềm lành”. Còn theo quyển 4 kinh «Pháp Hoa Văn Cú» thì: “Ưu Đàm hoa, có nghĩa là may mắn linh thiêng. Ba nghìn năm mới nở một lần, khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện”.
Kể từ năm 1992, tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Australia, các tiểu bang nước Mỹ, Canada, các tỉnh Trung Quốc, người ta liên tục phát hiện hoa Ưu Đàm Bà La thánh khiết khai nở. Chúng ta có thể tìm thấy trên mạng và chiêm ngưỡng phong thái cao quý thánh khiết của loài hoa này. Hoa Ưu Đàm không có rễ, không có lá, không có nước, không có đất; có thể mọc trên thủy tinh, sắt thép, tượng Phật, lá cây, hộp giấy và cả băng keo, có hoa mọc hơn 1 năm nhưng vẫn sinh cơ bừng bừng. Từ xưa tới nay chưa gặp bao giờ, nay các nhà thực vật học đã tận mắt chứng kiến. Năm nay (2011), theo Phật ký là năm 3038, hoa Ưu Đàm Bà La đã thịnh khai tại các nơi trên thế giới, thực đúng là thiên thượng ban tặng.
Cách tạo tượng dân gian và dự ngôn hiển rõ thiên cơ
Trong dân gian Trung Quốc bảo lưu một phương thức tạo hình Di Lặc, một pho tượng Phật cười ngạo nghễ, vây quanh có 18 tiểu hài tử, nô đùa muôn hình muôn vẻ, được gọi là “Thập bát tử Di Lặc”. Thế nhưng “Thập bát tử” (十八子) hợp thành một chữ “Lý” (李), tức báo trước Phật Di Lặc hạ thế truyền Pháp độ nhân vào thời mạt kiếp với phàm thân có họ là “Lý”. Truyền thuyết và cách tạo tượng Di Lặc thập bát tử này đã lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
Dự ngôn «Cách Am Di Lục» của Hàn Quốc tiên tri: “Hà vi Thánh nhân, Mộc Tử tính thị” (“Thánh nhân là ai, họ là Mộc Tử”; “Mộc Tử” (木子) ghép thành chữ “Lý” (李)), thuộc Thỏ, tháng Tư xuất sinh tại phía Bắc tam bát cấp (vĩ tuyến 38 độ Bắc phân chia Nam-Bắc Triều Tiên), Tam Thần sơn hạ (dưới chân núi Tam Thần sơn, tức Công Chủ Lĩnh dưới chân núi Trường Bạch)… Vị Thánh nhân này là “vương trung chi Vương” (Vua của các vua) trên thiên thượng, tức Pháp Luân Thánh Vương, lần này hạ phàm nhân gian gọi là Di Lặc Phật.
Lưu Bá Ôn cũng từng tiên tri trong dự ngôn «Thôi Bi Đồ» rằng: “Lúc ấy Di Lặc Phật thấu hư đến Nam Hạp Phù Đề thế giới trung thiên tại Trung Quốc Kim Kê mục, phụng Ngọc Thanh thời niên kiếp tận, Long Hoa hội Hổ, Thỏ chi niên đến trung thiên, nhận Mộc Tử vi tính”. Nghĩa là Phật Di Lặc tương lai sẽ chuyển sinh đến “trung thiên Trung Quốc” vào năm Thỏ, cụ thể là giáng sinh tại vị trí “mắt Gà Vàng” (Kim Kê mục) trên bản đồ Trung Quốc (chỉ tỉnh Cát Lâm), lấy “Mộc Tử” (Lý) làm họ.
Ngày 13 tháng 5 năm 1951, tức ngày mùng 8 tháng Tư theo Nông lịch, người sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí đản sinh tại thành phố Công Chủ Lĩnh, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, thuộc Thỏ, ngày này chính là “Lễ Phật đản” trong Phật giáo. Đồng thời ngày này cũng chính là ngày thứ 50 tính từ Lễ Phục Sinh năm 1951, gần như là “Lễ Thánh Linh giáng lâm” trong Cơ Đốc giáo. Tới đây, một số người thông hiểu thiên cơ đã biết được vì sao “Lễ Phục Sinh”, một ngày lễ trọng yếu của tôn giáo Tây phương lại được gọi là “Easter”, tức “người phương Đông”. Đồng thời, cũng hiểu vì sao người ta vẫn duy trì tập tục cổ xưa là Thỏ Phục Sinh (Thánh nhân thuộc Thỏ) và trứng Phục Sinh (có quan hệ với Kim Kê Trung Quốc) để kỷ niệm hoạt động này. Vào Lễ Giáng Sinh ở phương Tây, nhà nào cũng chuẩn bị và trang trí một cây thông Noel (thuộc Mộc), còn ám chỉ Thần ý huyền diệu khiến người ta kinh ngạc hơn nữa.
Nostradamus người Pháp trong tác phẩm «Các Thế Kỷ» đã tiên tri chính xác rất nhiều nhân vật và sự kiện trọng đại phát sinh tại các nơi trên thế giới mấy trăm năm qua, trong đó Các Thế Kỷ II, Khổ 29 đã dự ngôn minh xác về Cứu Thế Chủ cứu độ chúng sinh tại nhân loại vào thời mạt thế.
Các Thế Kỷ II, Khổ 29
Người phương Đông sẽ rời chỗ của Ngài,
Vượt qua dãy núi Apennine để trông thấy nước Pháp:
Ngài sẽ bay vượt qua bầu trời, nước và tuyết,
Đánh thức mọi người bằng cây gậy Thần của Ngài.
Bài thơ này chính là tiên tri người sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí, sau khi kết thúc truyền Pháp tại Trung Quốc Đại Lục sẽ sang Tây phương và truyền Pháp tại rất nhiều quốc gia Tây phương, khiến Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền toàn thế giới. Trong Các Thế Kỷ X, Khổ 75, Nostradamus cũng đề cập đến “Thần Hermes vĩ đại” để hình dung người sáng lập Pháp Luân Công hồng truyền Đại Pháp chính là giảng và truyền Đạo vũ trụ của Thần Phật cho nhân loại. Mà “Thần Hermes vĩ đại” có một cây thần trượng, dùng để đánh thức người đời, do đó câu thứ tư bài thơ trên mới nói “Đánh thức mọi người bằng cây gậy Thần của Ngài”. Khi Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền, mỗi cá nhân trên thế giới đều bị đánh động, và thái độ của họ đối với Đại Pháp sẽ quyết định tương lai của chính họ.
Theo Kinh Phật ghi lại, Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Đức Phật, có 32 tướng, 7 bảo; Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. Bất kể theo Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Nho giáo, chỉ cần khoan dung với mọi người, thì đều có thể có duyên gặp Chuyển Luân Thánh Vương. Thế nhưng việc tốt hay gặp trắc trở, Thần đến thật rồi, mà con người vẫn nghi hoặc không tin.
Thế nhân trong mê bất tỉnh
Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc. Vào ngày 2 tháng 3 năm Trinh Minh thứ 2 triều Hậu Lương (năm 916 SCN), trước khi tạ thế, ông lưu lại bài kệ khắc trên bia đá trong chùa Nhạc Lâm như sau: “Di Lặc chân Di Lặc, Phân thân thiên bách ức, Thời thời thị thời nhân, Thời nhân tự bất thức” (Di Lặc ấy là Di Lặc thật, Phân thân hàng trăm nghìn vạn, Lúc nào cũng thị hiện người đời, Chỉ bởi người không tự biết).
Bài kệ trước khi viên tịch của Bố Đại hòa thượng đã nói với người đời rằng, khi Phật Di Lặc tương lai hạ thế độ nhân, bất chấp chân tướng không ngừng triển hiện, thế nhân vẫn không thể đối diện với hiện thực.
“Phúc âm John” trong Kinh Thánh viết (1:10-11): “Ngài đã vào thế gian, thế gian đã được tạo nên bởi Ngài, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài. Ngài đã đến với dân Ngài, nhưng dân Ngài không tin nhận Ngài”. Kinh Thánh còn nói khi Cứu Thế Chủ giáng thế cứu người, ánh sáng của Ngài sẽ chiếu rọi thế giới trong nháy mắt, tựa như tia chớp từ trời tỏa sáng không trung. Thế nhưng người đời không nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, lại để Ngài phải chịu khổ không ít, thậm chí còn bị thế nhân không rõ chân tướng gièm pha.
Trong «Các Thế Kỷ» có một bài thơ nổi tiếng minh xác về thời gian, đó là Các Thế Kỷ X, Khổ 72 tiên tri về đại sự kiện:
Vào năm 1999, tháng 7,
Để Đại vương Angoulmois phục sinh,
Đại vương Khủng bố sẽ từ trên trời xuống,
Đến thời trước và sau khi Mars thống trị thiên hạ,
Nói là để có cuộc sống hạnh phúc cho mọi người.
Ngày 20 tháng 7 xác thực là một ngày đặc thù, được «Các Thế Kỷ» tiên tri là Giang Trạch Dân, kẻ chống Chúa, sẽ phát động cuộc đàn áp toàn diện đối với những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Cuộc đàn áp gây bao đổ máu, phỉ báng lừa dối, tạo ma nạn tại Trung Nguyên, mê hoặc thế nhân khiến họ phạm tội. Đây chính là trận đại chiến Chính-tà tối hậu Armageddon giữa Chiên Con và thú mà “Khải Huyền” nhắc tới, đến nay đã 12 năm. Đối diện với ma nạn, vô số Thánh đồ đã kiên nhẫn giảng rõ sự thật để thực hiện sứ mệnh cứu độ chúng sinh. Đảng Cộng sản Trung Quốc ngang nhiên chống lại Phật Pháp “Chân-Thiện-Nhẫn” của vũ trụ, đã rơi vào vũng bùn trong cuộc đọ sức Chính-tà này. Câu sấm “Cửu thập cửu niên thành đại thác” (Năm 99 thành sai lầm lớn) của dự ngôn «Thôi Bối Đồ» triều Đường đã trở thành sự thực.
Cuối cùng hướng về Thần
Kinh «Trường A Hàm», quyển 18 viết: “Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế… thời các tiểu vương tại Đông phương thấy Đại Vương, đều dâng châu báu quy thuận. Ngoài ba phương Nam, Tây, Bắc đều như vậy”.
“Khải Huyền” của Kinh Thánh viết (7:9-10): “Sau những việc đó, kìa, tôi thấy một đám đông rất lớn, không ai có thể đếm được, từ mọi quốc gia, bộ lạc, dân tộc, và ngôn ngữ đứng trước ngai và trước Chiên Con; ai nấy đều mặc áo choàng trắng và tay cầm cành thiên tuế. Họ cùng nhau cất tiếng hô vang rằng, ‘Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và thuộc về Chiên Con’.”
Cho dù phải trải qua bao nhiêu ma nạn, cuối cùng con người cũng đều hướng về Thần; những người này đến từ các phương, các nước, các dân tộc. Kinh Phật và Kinh Thánh đều nhất trí khi miêu tả điểm này.
Tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại
Sau khi Cứu Chủ giáng thế cứu vãn chúng sinh, nhân gian sẽ nghênh đón tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại.
Kinh «Di Lặc Hạ Sinh» viết: “Quốc thổ đều phú thịnh, vô phạt vô tai ách; nam nữ đều do thiện nghiệp sinh. Đất không cây gai, chỉ sinh cỏ xanh, thuận theo gót chân, mềm như tơ tằm. Tự nhiên xuất lúa thơm, mỹ vị đều sung túc. Cây cối sinh y phục, màu sắc đều trang nghiêm; cây cao ba tòa nhà, hoa quả thường dư dật. Lúc ấy người trong nước, đều thọ tám vạn năm, không có khổ bệnh tật, đầu óc thường an lạc.”
“Isaiah” của Kinh Thánh viết (65:19-20): “Tiếng than khóc sẽ không còn nghe trong thành ấy; Tiếng khóc than sẽ vĩnh viễn không còn. Trong thành ấy trẻ thơ sẽ không chết yểu; Không người già nào không hưởng trọn tuổi thọ của mình; Vì ai trăm tuổi mà qua đời sẽ bị xem là chết yểu; Người chưa được bách niên mà phải lìa đời sẽ bị xem là bị nguyền rủa”. “Isaiah” (65:23-25): “Chúng sẽ không lao động một cách luống công; Chúng sinh con ra chẳng phải để chuốc lấy âu sầu, Vì con cháu chúng sẽ là dòng dõi của những người được CHÚA ban phước, Và dòng dõi của chúng tiếp theo chúng nữa. … Chúng sẽ không gây tổn hại hay phá hoại trong khắp núi thánh của Ta,’ CHÚA phán vậy”. “Khải Huyền” của Kinh Thánh cũng miêu tả tân Thiên, tân Địa như sau (22:2): “Giữa quảng trường của thành, nơi rẽ ra của hai nhánh sông, có một cây sự sống sinh trái mười hai đợt, mỗi tháng một đợt, và lá của cây ấy được dùng để chữa lành các dân”.
Bởi vậy, sau khi trải qua trận đại chiến Chính-tà này, những người có đạo nghĩa, duy hộ Phật Pháp sẽ được lưu lại và có phúc. Họ sẽ trường thọ an lạc, vô phạt vô tai, hoa quả sung túc, mỹ vị phong phú, chung sống hòa thuận, không tranh không đấu, nhân loại từ đó tiến nhập vào kỷ nguyên mới.
(Hết)
[Nguồn: Chanhkien.org]

 

3. NGHI CÚNG VÍA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

* Tiết thứ làm nghi:

- Chuông trống Bát Nhã.

- Cử nhạc khai đàn.

- Chủ lễ đăng điện.

- Cử nhạc tham lễ.

- Chủ lễ niệm hương.

- Dâng hương – tác lễ,
 

- CÚNG HƯƠNG (chủ lễ xướng):

Nguyện đem lòng thành kính,

Gởi theo đám mây hương,

Phưởng phất khắp mười phương,

Cúng dường ngôi Tam Bảo.

Thề trọn đời giữ đạo,

Theo tự tánh làm lành,

Cùng pháp giới chúng sanh,

Cầu Phật từ gia hộ:

Tâm Bồ đề kiên cố,

Chí tu học vững bền,

Xa biển khổ mông mênh,

Chóng quay về bờ giác.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần)

- TÁN PHẬT (Tán thán công đức Phật):

Đấng Pháp vương vô thượng,

Ba cõi chẳng ai bằng,

Thầy dạy khắp trời người,

Cha lành chung bốn loại.

Qui y tròn một niệm,

Dứt sạch nghiệp ba kỳ,

Xưng dương cùng tán thán,

Ức kiếp không cùng tận!

- LỄ PHẬT:

Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng,

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

Lưới Đế châu ví đạo tràng,

Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời .

Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,

Cúi đầu xin thệ nguyện qui y.

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận Hư Không, Biến Pháp Giới, Quá Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật; Đương Lai Hạ Sanh Di lặc Tôn Phật; Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát; Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát; Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát; Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lễ)

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật; Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát; Đại Thế Chí Bồ Tát; Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát; Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (1 lễ)

- TÁN HƯƠNG (nhạc cúng hương):

Hương xông đảnh báu,

Giới định tuệ hương,

Giải thoát tri kiến quí khôn lường,

Ngào ngạt khắp muôn phương,

Thanh tịnh tâm hương,

Đệ tử nguyện cúng dường.

Nam mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần)

- TỤNG CHÚ ĐẠI BI:

Nam mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại đại bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a lị gia bà lô kiết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tả. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a lị gia bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà, ma phạt đặt đậu đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê lị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà là, địa rị ni, thất Phật ra da, giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ra ma, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư gia, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma kiết tất đà dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ ta bà ha. Ma bà rị thắng kiết ra dạ ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô kiết đế thước bàn ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô mạn đà ra bạt đà dạ ta bà ha.

- TÁN:

Quan Âm Bồ Tát thánh linh thiêng,

Nhiều kiếp tu nhơn đạo quả viên,

Muôn xứ tín cầu muôn xứ ứng,

Sông mê qua lại một Từ thuyền.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

- CHỦ LỄ VÀ TẤT CẢ ĐỀU NGỒI XUỐNG TỤNG BÀI Ý NGHĨA LỄ THÁNH ĐẢN.

(Tụng chậm, đậu câu, thay vì bạch sớ).

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

Chúng con cung kính nghe rằng:

Hương sơn đại định,

Viên thành ngàn vạn Đà la;

Nam hải trùng ba,

Quảng phát mười hai diệu hạnh.

"Viễn Thông" hiệu thành,

"Tự Tại" tên lành,

Cứu khổ tầm thanh,

Độ sanh tùy nguyện.

Hôm nay đạo tràng khai diễn,

Giờ này Thánh lễ cử hành,

Kính dâng hoa giác đôi cành,

Phụng hiến hương lòng một đảnh.

Cúng dường Quan Âm vía Thánh,

Lễ bái Bồ Tát mẹ hiền,

Ngửa mong Đại sĩ linh thiêng,

Dủ ánh quang minh chứng giám!

Chúng con còn nhớ rằng:

Thuở xưa Chánh Pháp Minh Vương,

Đời nay Quán Âm Bồ Tát.

Trợ Phật Di Đà Cực lạc,

Tràng phan tiếp dẫn Tây thiên;

Giúp thầy Thích thị Kỳ Viên,

Thuyết pháp độ sanh Đông độ.

Hiện ba hai (32) thân cứu khổ,

Độ hai bảy (27) chướng nạn cầu!

Đa phương diệu dụng nhiệm mầu,

Nhất niệm thần thông hiển hiện.

Nhơn gian gái trai biết tiếng,

Thiên hạ già trẻ nghe danh.

Phổ môn tụng niệm chí thành,

Bát Nhã thọ trì cung kính.

Cành dương sái tịnh,

Nước pháp tẩy trần;

Gia hộ nhân dân,

Dắt dìu Phật tử.

Tôn thờ khắp xứ,

Tín ngưỡng mọi nhà;

Công đức Phật bà,

Vô biên bất tận!

Chúng con cũng tự nghĩ rằng:

Sanh thời mạt vận,

Sống kiếp hậu sanh,

Đạo nghiệp khó thành,

Chướng duyên dễ ngại,

Tu hành giải đãi,

Danh lợi tìm cầu.

Vì vậy:

Bể khổ còn sâu,

Sông mê chưa cạn,

Ba tai tám nạn,

Sáu cõi ba đường.

Bất trắc tai ương,

Vô thường biến động,

Hoài nghi kiếp sống,

Hồi hộp cuộc đời,

Khó hỏi đất trời,

Dễ tin số mạng.

Do đó:

Nếu không nhờ mẹ hiền cứu nạn,

Không mong gì con dại thoát tai.

Từ tâm cứu khổ muôn loài,

Bi nguyện dắt dìu quảng đại.

Trước đài một lòng lễ bái,

Trên tọa muôn đức cảm thông.

Nam mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

- TÁN:

Tay cầm cành liễu,

Rửa sạch trần ai,

Tham thiền nhập định bảo liên đài.

Đầu đội Đức Như Lai,

Cứu độ muôn loài,

Diệu Pháp Phổ Môn khai.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lễ)

-TỤNG:

Cúi đầu đảnh lễ Đức Quán Âm,

Tướng tốt quang minh nguyện lực thâm.

Nghìn mắt sáng soi đường tăm tối,

Nghìn tay dìu dắt kẻ mê lầm.

Vô vi phát khởi từ bi nguyện,

Chơn thật tuyên dương bí mật âm.

Thỏa mãn mọi người lòng ước nguyện,

Tiêu trừ tội chướng hết luân trầm.

Long thiên các Thánh đồng gia hộ,

Trăm nghìn Tam muội nguyện tu tâm.

Thân được quang minh tâm trí tuệ,

Thọ trì công đức thật cao thâm.

Trần lao biển cả thề qua lại,

Siêu chứng Bồ đề hết lỗi lầm.

Con nay xưng tụng nguyện qui y,

Các nguyện tùy tâm đều viên mãn.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con biết tất cả pháp.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con được mắt trí tuệ.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con đưọc nhiều phương tiện.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con lên thuyền Bát Nhã.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con được qua biển khổ.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con được giới định tuệ.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con lên núi Niết Bàn.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con vào Vô Vi thất.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,

Xin cho con được thân pháp tánh.

Nếu con đến núi đao,

Núi đao tự đổ vỡ.

Nếu con đến lửa nóng,

Lửa nóng tự tàn rụi.

Nếu con đến địa ngục,

Địa ngục tự khô kiệt.

Nếu con đến ngạ quỷ,

Ngạ quỷ tự no đủ.

Nếu con đến súc sanh,

Súc sanh được trí tuệ.

Nếu con đến Tu la,

Tu la tự điều phục.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (10 lần)

- TÁN:

Cành dương nước phép,

Rải khắp ba ngàn,

Tánh không tám đức sạch trần gian,

Pháp giới rộng thênh thang,

Tôi nghiệp tiêu tan,

Lửa đỏ hóa sen vàng.

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần)

- TỤNG BÁT NHÃ TÂM KINH:

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH.

Quán tự tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.

"Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị".

Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo, vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề. Cố tri Bát nhã ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chơn thiệt bất hư, cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú. Tức thuyết chú viết:

"Yết đế, yết đế, Ba la yết đế, Ba la Tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha".

(Hoặc tụng kinh Phổ Môn và 12 hiệu Quan Âm Như Lai sau kinh).

- HỒI HƯỚNG:

Vừa rồi, bao nhiêu công đức,

Bấy nhiêu hương hoa,

Thành kính thiết tha,

Nguyện xin cúng dưỡng.

- PHỤC NGUYỆN:

Thần thông cảm ứng,

Diệu dụng thiêng liêng,

Gia hộ cho chúng con:

Biển khổ may gặp từ thuyền,

Đường mê mong lên Pháp giá.

Vượt qua bể cả,

Cùng tận đường dài,

Vui sống dưới bóng kim đài,

An tâm trong vòng bảo thủ. (1)

Viên thông giáo chủ,

Tự Tại Quán Âm.

Chúng đẳng thành tâm,

Một lòng tán tụng.

Nam mô A Di Đà Phật. (đồng hòa)

- TÁN:

Nguyện ngày an lành, đêm an lành,

Đêm ngày sáu thời được an lành,

Tất cả các thời đều an lành,

Duy nguyện Thánh từ thường cứu độ.

Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

Nguyện chơn trí tuệ thường sáng tỏ,

Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

Kiếp kiếp thường tu Bồ Tát đạo.

Nguyện sanh Cực lạc cảnh Tây pương,

Chín phẩm hoa sen là cha mẹ,

Hoa nở thấy Phật chứng vô sanh,

Bồ Tát bất thoái là bạn hữu.

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

Tự qui Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (1 lễ)

Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sanh thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển. (1 lễ)

Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lễ)

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Thù ân kỷ niệm,

Lễ đã viên thành,

Chuông trống hòa thanh,

Lễ thành ba lạy.

 

* Ghi chú:

(1) Bảo thủ: tay báu – đài vàng.

* Lưu ý:

Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát mỗi năm gồm có 3 ngày: 19-02, 19-06, 19-09 AL. Nghi này có thể đùng cho ba lễ được cả.

Tranh vẽ "Tây Phương Cực Lạc"

Thế giới tên là Cực Lạc.
blank
Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.”
...trong cõi nước đó không có những sự khổ,chỉ thọ hưởng các điều vui, nên cõi đó tên là Cực Lạc.
blank
Cõi nước Cực Lạc có bảy lớp dậu rào, 7 lớp mành lưới, 7 lớp hàng cây, đều bằng châu báu,
blank
nơi cõi nước Cực Lạc đó có ao 7 chất báu, trong ao tràn đầy 8 nước công đức, đáy ao thuần bằng cát vàng trải làm mặt đất
...Trong ao, có hoa sen lớn như bánh xe,... hương thơm vi diệu tinh khiết.
blank
...nơi cõi nước Phật đó thường trỗi nhạc trời,
blank
Người ở trong cõi đó, thường mỗi sáng sớm, lấy vạt áo đựng những hoa kỳ diệu, cúng dường mười vạn ức Phật ở các phương khác.
blank
Đến giờ ăn sau khi cúng dường, liền trở về nước của mình, dùng cơm, rồi kinh hành.
blank
...nơi cõi nước đó thường có nhiều giống chim kỳ diệu, đủ các màu sắc: chim Bạch Hạc, Khổng Tước, vv... Các loài chim đó ngày đêm sáu thời hót ca thanh âm hòa nhã....
blank
Các giống chim ấy là do Phật A Di Đà muốn tuyên lưu diệu pháp mà biến ra như vậy.
blank
Cõi nước Cực Lạc có gió nhẹ thổi các hàng cây báu và các mành lưới báu, phát ra thanh âm huyền diệu, như trăm nghìn thứ nhạc cùng lúc hòa chung.
Nghe thanh âm đó, mọi người đều tự nhiên khởi tâm niệm Phật, Pháp, Tăng.
blank
Đức Phật A Di Đà có vô số hàng Thanh Văn đệ tử, đều là bậc A La Hán, nhiều không thể tính đếm mà biết được. Các vị Bồ Tát cũng đông như thế.
blank
Nơi cõi nước Cực Lạc đó, chúng sanh được sanh về, đều là bậc chẳng thối chuyển. Trong đó có rất nhiều vị một đời thành Phật, số đó rất đông.
blank
Chúng sanh phải nên phát nguyện, nguyện sanh về cõi nước đó. Vì sao vậy? Vì được cùng các bậc Thượng thiện nhân tụ hội một nơi
blank
Nếu có người trì danh hiệu Phật A Di Đà, tâm chuyên nhất chẳng loạn. Người đó, lúc lâm chung, liền được sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà.
blank
blank
“Các chúng sanh phải tin kinh này, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn, được tất cả các đức Phật hộ niệm”.
blank
Thế giới phương Dưới có Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, vv... nhiều vô số các đức Phật như thế
blank
Thế giới phương Trên có Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, vv... nhiều vô số các đức Phật như thế,
blank
blank
...nếu có người con trai lành, người con gái lành nào nghe được kinh nầy mà thọ trì, và nghe được danh hiệu của các đức Phật, thì những người con trai lành, những người con gái lành đó đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được chẳng thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.